Cập nhật điều trị cơn đau thắt ngực ổn định (P.4)
Ngày 29/06/2018 12:28 | Lượt xem: 169

IV.3. Đau thắt ngực ổn định và đái tháo đường:

-          Khoảng 33% bệnh nhân đau thặt ngực ổn định CAD có đái tháo đường, điều này làm dẫn đến những biến cố tim mạch và tình trạng thiếu máu nặng hơn (cả có triệu chứng và im lặng). Thuốc điều trị cần có ảnh hưởng lên chuyển hóa đường huyết tốt. Ranoazine là thuốc chống đau ngực có nhiều tác dụng như làm giảm HbA1c.

IV.3. Đau thắt ngực ổn định và đái tháo đường:

-          Khoảng 33% bệnh nhân đau thặt ngực ổn định CAD có đái tháo đường, điều này làm dẫn đến những biến cố tim mạch và tình trạng thiếu máu nặng hơn (cả có triệu chứng và im lặng). Thuốc điều trị cần có ảnh hưởng lên chuyển hóa đường huyết tốt. Ranoazine là thuốc chống đau ngực có nhiều tác dụng như làm giảm HbA1c. Trong một nghiên cứu bệnh chứng, ranoazine làm giảm HbA1c < 7% cao hơn so với nhóm chứng.  Việc sử dụng ức chế beta có nguy cơ làm rối loạn đường huyết. Có vẻ như là tác dụng trên chủ yếu ở nhóm ức chế betakhông gây giãn mạch. Đối với nhóm ức chế betagây giãn mạch có tác dụng làm tăng nhạy cảm insulin và không tăng nồng độ lipid máu. Có nhiều dữ liệu ủng hộ việc sử dụng trimetazidine, liều 20 mg/ngày trong 2 tuần trong một nghiên cứu bệnh chứng cho thấy làm giảm nhanh lượng đường huyết máu, tuy nhiên nghiên cứu này có số lượng bệnh nhân tham gia thấp.

-          Vì thế, ranolazine hay ức chế beta giãn mạch tác động lên chuyển hóa tốt, ivabradine, nicorandil, CCBs và trimetazidine tác động lên chuyển hóa mức trung bình, nên được sử dụng trên bệnh nhân đau thắt ngực ổn định có đái tháo đường nhằm điều trị triệu chứng.

IV.4. Đau thắt ngực ổn định và chức năng thất trái giảm:

-          Khoảng 70% bệnh nhân suy tim với chức năng thất trái giảm có tình trạng đau thắt ngực ổn định, và việc điều trị thuốc không chỉ giảm số cơn đau ngực mà còn để cải thiện tiên lượng.

-          Ức chế beta nhằm giảm triệu chứng đau ngực, làm chậm tiến trình suy tim, làm giảm số lần nhập viện vì suy tim, và cải thiện tiên lượng. Ivabradine điều trị triệu chứng, giảm số lần nhập viện vì suy tim, cải thiện tiên lượng chung. Trong nghiên cứu BEAUTIFUL, đối với những bệnh nhân EF < 40% sử dụng ivabradine giảm tỉ lê tử vong có và không liên quan đến nhồi máu cơ tim vào khoảng 36%, và giảm nhu cầu tái đồng bộ cơ tim vào khoảng 30% trên những bệnh nhân có nhịp tim >70 lần/phút. Vì thế, sử dụng ức chế betavà/hoặc ivabradine để điều trị triệu chứng, giảm biến cố và tử vong tim mạch. Mặt khác, hydralazine/isosorbide dinitrate thay cho ACEI/ARB có thể dẫn tới các cơn đau thắt ngực nặng hơn. Sự an toàn khi dùng ranolazine đối với người suy tim và EF giảm là chưa chắc chắn, nên cần được sử dụng một cách thận trọng trọng. Nitrate có vai trò trong việc phối hợp làm giãn mạch, và điều trị đau ngực. Nicorandil và DHP CCBs an toàn với bệnh nhân suy tim có EF giảm.

IV.5. Đau thắt ngực ổn định và rung nhĩ:

-          Rung nhĩ có thể làm nặng lên tình trạng đau thắt ngực do làm tăng nhịp tim qua đó làm tăng nhu cầu oxi cơ tim. Ức chế betavà non- DHP CCBs nên được sử dụng, làm chậm nhịp tim, giảm đau ngực. Các thuốc này không chỉ giảm nhịp tim trong tình trạng cấp, mà còn kiểm soát nhịp lâu dài. Không được dùng Ivabradine để làm giảm nhịp tim đồng thời giảm đau thắt ngực vì thuốc không có tác dụng trên rung nhĩ. Chúng ta có thể sử dụng ranolazin để phòng ngừa rung nhĩ sau CABG. Trong một nghiên cứu quan sát trên 393 bệnh nhân đã CABG, ranolazine (1500mg trước thủ thuật, 1000mg 2 lần/ngày trong 10 – 14 ngày sau phẫu thuật) làm giảm tỉ lệ rung nhĩ sau CABG. Trong nghiên cứu phase 2, ranolazine 750 mg phối hợp liều thấp dronedarone 225 mg 2 lần/ngày làm giảm đáng kể tỉ lệ rung nhĩ.

IV.6. Đau ngực do sử dụng cocaine:

-          Cocaine là một trong những loại thuốc gây nghiện được sử dụng phổ biến và có liên quan đến một số biến chứng về tim mạch bao gồm đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, rối loạn chức năng LV và bóc tách động mạch chủ. Cocaine có thể gây thiếu máu cục bộ/nhồi máu cơ tim do một số cơ chế. Cocaine làm tăng nhu cầu oxy cơ tim bằng cách làm tăng nhịp tim, huyết áp và co bóp tim thông qua hoạt động giao cảm. Nó cũng có thể gây co thắt động mạch vành cũng như gây huyết khối bằng cách tăng các chất ức chế hoạt hóa plasminogen và kích thích sự hoạt hóa và kết tập tiểu cầu.

-          Bệnh nhân có đau ngực liên quan đến cocaine, đau thắt ngực không ổn định hoặc NMCT cần được điều trị như là bệnh MV hoặc bệnh MV với một số sửa đổi. Những khuyến cáo này dựa trên các nghiên cứu về loạt bệnh, các nghiên cứu quan sát, các bằng chứng qua thông tim và các nghiên cứu trên động vật. Ở những bệnh nhân bị đau ngực do cocaine, các thuốcbenzodiazepine tiêm tĩnh mạch sẽ giúp giảm đau ngực và ổn định huyết động. Các thuốc chẹn beta không nên được sử dụng trong bối cảnh cấp tính do có nguy cơ tăng co thắt mạch vành. Việc đặt stent phủ thuốc cần được xem xét trong trường hợp BN không tuân thủ điều trị kháng tiểu cầu kép.

-          Ngừng sử dụng cocaine có lẽ là chiến lược phòng ngừa thứ phát tốt nhất. Kiểm soát tích cực các YTNC khi có bằng chứng rõ ràng về NMCT hoặc xơ vữa động mạch. Việc sử dụng thuốc ức chế beta lâu dài có thể có lợi ở những bệnh nhân NMCT và rối loạn chức năng LV đã ngưng sử dụng cocaine, còn ở những bệnh nhân tiếp tục sử dụng cocaine, chỉ nên sử dụng thuốc chẹn beta ở bệnh nhân có chỉ định mạnh nhất và từng trường hợp cụ thể.

 

V. KẾT LUẬN

                        Hiện nay mặc dù can thiệp tái thông mạch vành qua da hay bằng phẫu thuật đãrất phổ biến nhưng điều trị nội khoa bằng thuốc của bệnh lý mạch vành mạn hay cơn đau thắt ngực cũng giữ vai trò rất quan trọng. Song song với việc kiểm soát đau ngực bằng thuốc thì điều trị nội khoa các yếu tố đi kèm, kiểm soát huyết áp, điều chỉnh lipid máu cũng giúp tăng hiệu quả trong điều trị BMV mạn. Ngoài ra việc chú ý các tác dụng của thuốc, chống chỉ định trong lựa chọn điều trị hay phối hợp thuốc sớm là những vấn đề đáng quan tâm.

                        Kháng kết tập tiểu cầu đóng vai trò rất quan trọng trong phòng ngừa các biến cố tim mạch của BN có BMV mạn. Mặc dù các thuốc mới tuy chưa có nhiều bằng chứng và nghiên cứu nhưng chắc chắn trong tương lai sẽ mở ra hướng đi mới trong điều trị bệnh mạch vành mạn.

Theo timmachhoc.vn

PK Đức Tín

Print Chia sẽ qua facebook bài: Cập nhật điều trị cơn đau thắt ngực ổn định (P.4) Chia sẽ qua google bài: Cập nhật điều trị cơn đau thắt ngực ổn định (P.4) Chia sẽ qua twitter bài: Cập nhật điều trị cơn đau thắt ngực ổn định (P.4) Chia sẽ qua MySpace bài: Cập nhật điều trị cơn đau thắt ngực ổn định (P.4) Chia sẽ qua LinkedIn bài: Cập nhật điều trị cơn đau thắt ngực ổn định (P.4) Chia sẽ qua stumbleupon bài: Cập nhật điều trị cơn đau thắt ngực ổn định (P.4) Chia sẽ qua icio bài: Cập nhật điều trị cơn đau thắt ngực ổn định (P.4) Chia sẽ qua digg bài: Cập nhật điều trị cơn đau thắt ngực ổn định (P.4) Chia sẽ qua yahoo bài: Cập nhật điều trị cơn đau thắt ngực ổn định (P.4) Chia sẽ qua yahoo bài: Cập nhật điều trị cơn đau thắt ngực ổn định (P.4) Chia sẽ qua yahoo bài: Cập nhật điều trị cơn đau thắt ngực ổn định (P.4) Chia sẽ qua yahoo bài: Cập nhật điều trị cơn đau thắt ngực ổn định (P.4)

Tin tức liên quan

Ý KIẾN KHÁCH HÀNG

  • Tôi Nguyễn Thanh Sang, sinh năm 1990. Từ sau khi khám và điều trị tại phòng khám Đức Tín, tôi rất biết ơn Bác Sĩ đã giải thích và chia sẽ về bệnh tình của tôi. Trong suốt thời gian điều trị tại phòng khám tôi được chắm sóc rất tận tình của nhân viên phòng khám. giờ đây bệnh tình của tôi đã được cải thiện theo chiều hướng tốt. Mong phòng khám ngày càng phát triển hơn để có thể cứu được nhiều bệnh nhân.

    Tôi thành thật cảm ơn!. sđt: 0938303275

  • Tôi Huỳnh Thị Mười, sinh năm 1940 đã khám và điều trị tại phòng khám Đức Tín. Tôi rất hài lòng về cách phục vụ và chăm sóc bệnh nhân của phòng khám. Bác Sĩ rất tận tâm giải thích và chia sẻ cùng với bẹnh nhân.

    Tôi Huỳnh Thị Mười xin thành thật cảm ơn!SĐT: 0972868746

  • Theo tôi nhận định PK Đức Tín là nơi cả gia đình tôi đặt niềm tin, hi vọng khi đến khám. Bác sĩ tận tình, chu đáo, hòa nhã với bệnh nhân. Y tá và nhân viên PK lịch sự, vui vẻ, chu đáo. PK sạch sẽ, vô trùng nên tôi rất thích. ĐT: 0949914060.

  • Bác sĩ rất tận tình, chu đáo và Y tá rất dịu dàng, lịch sự, niềm nở với tôi. Phòng khám sạch sẽ, thoải mái, lịch sự. Tôi rất thích PK Đức Tín. Mỗi khi đến khám bệnh tôi rất an tâm. ĐT: 0839820792.

  • Tôi là bệnh nhân, đã tới phòng khám Ths.Bs. Lê Đức Tín. Tôi thấy bác sĩ rất tận tâm chăm sóc bệnh nhân, giải đáp mọi thắc mắc và nhân viên rất tận tình từ nhân viên tiếp tân đến các em xét nghiệm, điều dưỡng. Phòng khám rất sạch sẽ và khang trang. Tôi rất hài lòng. ĐT: 01227880829.

Tìm kiếm
TOP