Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng phòng ngừa các biến cố bất lợi trong bệnh thận mạn của dapagliflozin (Dapa-ckd): Lí do và phương pháp nghiên cứu (P1)
Ngày 25/08/2020 09:08 | Lượt xem: 152

Các thử nghiệm lâm sàng về kết cục tim mạch gần đây cho thấy thuốc ức chế chọn lọc kênh đồng vận chuyển Natri – glucose (SGLT2) làm chậm tiến triển của bệnh thận mạn (BTM) ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) typ 2 có nguy cơ tim mạch cao. Liệu những lợi ích đó có được mở rộng trên đối tượng BTM không có ĐTĐ hoặc bệnh tim mạch hay không là chưa được biết. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thử nghiệm này nhằm đánh giá ảnh hưởng của thuốc ức chế SGLT2 trên tim mạch và thận ở những bệnh nhân BTM có và không có ĐTĐ.

Thuốc ức chế SGLT2 có tác dụng tăng thải glucose qua nước tiểu nhờ vậy làm giảm glucose máu và HbA1C độc lập với insulin ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2[1]. Cho đến nay, ba thử nghiệm an toàn tim mạch lớn đã chứng minh lợi ích tim mạch và thận của các thuốc này không chỉ nhờ tác dụng kiểm soát đường máu. Đối tượng của các nghiên cứu này tập trung chủ yếu trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có bệnh tim mạch hoặc yếu tố nguy cơ tim mạch, có chức năng thận bảo tồn, còn các bệnh nhân đã có BTM hoặc bệnh thận giai đoạn cuối thì chưa được quan tâm nhiều [2 -4]. Do đó, cần phải tiến hành thêm các thử nghiệm để xác định hiệu quả và tính an toàn của thuốc ức chế SGLT2 ở bệnh nhân có bệnh thận mạn. Thử nghiệm đầu tiên của thuốc ức chế SGLT2 trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có bệnh thận mạn đã chứng minh sử dụng canagliflozin 100 mg/ ngày làm giảm 30% nguy cơ biến cố gộp trên thận (tăng gấp đôi creatinin, bệnh thận giai đoạn cuối hoặc tử vong do thận hoặc tim mạch) so với giả dược [5].

Trong các thử nghiệm trước đó, lợi ích bảo vệ thận của thuốc ức chế SGLT2 dường như không  dựa vào tác dụng giảm nhẹ HbA1C (đặc biệt trên những bệnh nhân có mức lọc cầu thận thấp) mà còn nhờ một số cơ chế khác như kích hoạt phản hồi ống cầu thận, giảm tình trạng thiếu oxy trong thận. Do đó, thuốc ức chế SGLT2 có thể giúp bảo vệ thận trên bệnh nhân BTM không có ĐTĐ [6,7].

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả làm giảm nguy cơ tim mạch và thận của thuốc dapagliflozin so với giả dược trên những bệnh nhân BTM có hoặc không có ĐTĐ typ 2 đã dùng thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc ức chế thụ thể liều tối ưu.

  1. PHƯƠNG PHÁP
    • Tiêu chí nghiên cứu

Tiêu chí chính nhằm đánh giá hiệu quả của dapagliflozin so với giả dược giúp làm giảm các biến cố gộp trên thận (bao gồm giảm eGFR > 50%, bệnh thận giai đoạn cuối hoặc tử vong do bệnh thận) hoặc tử vong do tim mạch trên bệnh nhân BTM. Đồng thời, nghiên cứu cũng giúp đánh giá lợi ích của thuốc dapagliflozin so với giả dược trên tiêu chí gộp làm xấu đi chức năng thận, tiêu chí gộp về tỉ lệ nhập viện do suy tim hoặc tử vong do bệnh tim mạch và tử vong do mọi nguyên nhân. Các tiêu chí khám phá bao gồm sự thay đổi eGFR và UACR cũng như chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe.

  • Thiết kế nghiên cứu

Đây là nghiên cứu đa quốc gia, đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, 2 nhóm nghiên cứu song song có kiểm chứng giả dược. Nghiên cứu được tiến hành trên 4300 bệnh nhân tại gần 400 trung tâm trên 21 quốc gia (Biểu đồ 1).

  • Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên bệnh nhân trưởng thành BTM có eGFR từ 25 – 75 ml/ phút/ 1.73 m2 và có UACR từ 200 – 5000 mg/g (22.6 – 565 mg/mmol). Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm những bệnh nhân mắc bệnh thận đa nang di truyền gen trội hoặc lặn trên nhiễm sắc thể thường, viêm thận lupus, viêm mạch ANCA và ĐTĐ typ 1.

Bảng 1. Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ trong thử nghiệm DAPA-CKD

 
Tiêu chuẩn lựa chọn
·         Tuổi ≥ 18

·         Mức lọc cầu thận từ 25 – 75 ml/phút/1.73 m2

·         Tỉ số A/C niệu từ 200 – 5000 mg/g

·         Tình trạng bệnh nhân ổn định, có sử dụng ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể liều tối ưu trong ít nhất 4 tuần trước khi tiến hành sàng lọc nếu không có chống chỉ định.

Tiêu chuẩn loại trừ
·         Đái tháo đường typ 1

·         Bệnh thận đa nang di truyền gen trội hoặc lặn trên nhiễm sắc thể thường, viêm thận lupus hoặc viêm mạch ANCA

·         Bệnh thận nguyên phát hoặc thứ phát điều trị bằng các thuốc gây độc tế bào hoặc ức chế miễn dịch trong vòng 6 tháng trước khi tuyển chọn.

·         Suy tim sung huyết NYHA IV

·         Nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực không ổn định, đột quị hoặc tai biến mạch não thoáng qua trong vòng 8 tuần trước khi tuyển chọn.

·         Tái thông mạch vành (can thiệp mạch vành qua da hoặc phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành) hoặc sửa/ thay thế van tim trong vòng 8 tuần trước khi tuyển chọn.

·         Bất kì tình trạng nào ngoài các nghiên cứu tim mạch và thận có kỳ vọng sống < 2 năm trong đánh giá điều tra lâm sàng.

·         Suy gan (AST hoặc ALT > 3 lần giới hạn trên bình thường hoặc Bilirubin toàn phần >2 lần giới hạn trên bình thường trong thời gian tuyển chọn)

  • Can thiệp

Sàng lọc bệnh nhân: Những bệnh nhân thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn lựa chọn gồm eGFR từ 25 – 75 ml/phút/ 1.73 mvà UACR từ 200 – 5000 mg/g thực hiện tại phòng thí nghiệm trung tâm và các tiêu chuẩn loại trừ được lựa chọn tại các trung tâm nghiên cứu. Sau đó, những bệnh nhân này được phân ngẫu nhiên trong 14 (± 7) ngày. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm bệnh thận đa nang di truyền gen trội hoặc lặn trên nhiễm sắc thể thường, viêm thận lupus hoặc viêm mạch ANCA và bệnh thận nguyên phát hoặc thứ phát đã điều trị bằng các thuốc ức chế miễn dịch trong vòng 6 tháng trước.

Do sự thay đổi lớn của creatinin huyết thanh (eGFR) và UACR giữa các ngày nên có thể sàng lọc lần 2 cho những bệnh nhân không đủ tiêu chuẩn ở lần đầu tiên tùy thuộc vào quyết định của điều tra viên.

Phân ngẫu nhiên: 4300 bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên (1:1) nhận dapagliflozin 10 mg hoặc giả dược, uống cố định vào buổi sáng hàng ngày cùng với các điều trị thông thường bao gồm thuốc ức chế thụ thể hoặc ức chế men chuyển liều tối ưu. Phân bố đối tượng nghiên cứu đảm bảo có ít nhất 30% số bệnh nhân của cả nhóm đái tháo đường và không đái tháo đường được phân bố ở tất cả các trung tâm trên thế giới và không quá 10% số bệnh nhân có eGFR từ 60 -75 ml/phút/ 1.73 m2.

Điều trị mù đôi và quản lí bệnh nhân: Sau khi phân ngẫu nhiên, các lần thăm khám bao gồm: sau 2 tuần, sau 2, 4, 8 tháng và sau mỗi 4 tháng cho đến khi 681 bệnh nhân xảy ra biến cố chính. Lần thăm khám cuối cùng là 6 tuần sau khi đạt đủ biến cố chính. Các biến số cần theo dõi bao gồm các thông tin về tiêu chí nghiên cứu, biến cố ngoại ý, biện pháp điều trị, sự tuân thủ thuốc của bệnh nhân, dấu hiệu sinh tồn và các xét nghiệm máu và nước tiểu.

Những bệnh nhân gặp biến cố thận hoặc tim mạch vẫn được khuyên tiếp tục dùng thuốc nghiên cứu. Đối với bệnh nhân giảm thể tích dịch ngoại bào, hạ huyết áp hoặc suy giảm chức năng thận đột ngột cần giảm liều dapagliflozin 5mg hoặc dừng thuốc. Đối với bệnh nhân nhiễm toan đái tháo đường hoặc có thai cần dừng thuốc. Bệnh nhân có thể quyết định ngừng thuốc bất cứ thời gian nào. Những bệnh nhân dừng thuốc sớm được khuyến khích tiếp tục theo dõi theo lịch tại trung tâm nghiên cứu. Nếu không thể đến được, có thể lựa chọn theo dõi qua điện thoại hoặc thông qua các bác sĩ điều trị.

Còn tiếp

Theo timmachhoc

Pk Đức Tín

Print Chia sẽ qua facebook bài: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng phòng ngừa các biến cố bất lợi trong bệnh thận mạn của dapagliflozin (Dapa-ckd): Lí do và phương pháp nghiên cứu (P1) Chia sẽ qua google bài: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng phòng ngừa các biến cố bất lợi trong bệnh thận mạn của dapagliflozin (Dapa-ckd): Lí do và phương pháp nghiên cứu (P1) Chia sẽ qua twitter bài: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng phòng ngừa các biến cố bất lợi trong bệnh thận mạn của dapagliflozin (Dapa-ckd): Lí do và phương pháp nghiên cứu (P1) Chia sẽ qua MySpace bài: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng phòng ngừa các biến cố bất lợi trong bệnh thận mạn của dapagliflozin (Dapa-ckd): Lí do và phương pháp nghiên cứu (P1) Chia sẽ qua LinkedIn bài: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng phòng ngừa các biến cố bất lợi trong bệnh thận mạn của dapagliflozin (Dapa-ckd): Lí do và phương pháp nghiên cứu (P1) Chia sẽ qua stumbleupon bài: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng phòng ngừa các biến cố bất lợi trong bệnh thận mạn của dapagliflozin (Dapa-ckd): Lí do và phương pháp nghiên cứu (P1) Chia sẽ qua icio bài: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng phòng ngừa các biến cố bất lợi trong bệnh thận mạn của dapagliflozin (Dapa-ckd): Lí do và phương pháp nghiên cứu (P1) Chia sẽ qua digg bài: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng phòng ngừa các biến cố bất lợi trong bệnh thận mạn của dapagliflozin (Dapa-ckd): Lí do và phương pháp nghiên cứu (P1) Chia sẽ qua yahoo bài: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng phòng ngừa các biến cố bất lợi trong bệnh thận mạn của dapagliflozin (Dapa-ckd): Lí do và phương pháp nghiên cứu (P1) Chia sẽ qua yahoo bài: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng phòng ngừa các biến cố bất lợi trong bệnh thận mạn của dapagliflozin (Dapa-ckd): Lí do và phương pháp nghiên cứu (P1) Chia sẽ qua yahoo bài: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng phòng ngừa các biến cố bất lợi trong bệnh thận mạn của dapagliflozin (Dapa-ckd): Lí do và phương pháp nghiên cứu (P1) Chia sẽ qua yahoo bài: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng phòng ngừa các biến cố bất lợi trong bệnh thận mạn của dapagliflozin (Dapa-ckd): Lí do và phương pháp nghiên cứu (P1)

Tin tức liên quan

Ý KIẾN KHÁCH HÀNG

  • Tôi Nguyễn Thanh Sang, sinh năm 1990. Từ sau khi khám và điều trị tại phòng khám Đức Tín, tôi rất biết ơn Bác Sĩ đã giải thích và chia sẽ về bệnh tình của tôi. Trong suốt thời gian điều trị tại phòng khám tôi được chắm sóc rất tận tình của nhân viên phòng khám. giờ đây bệnh tình của tôi đã được cải thiện theo chiều hướng tốt. Mong phòng khám ngày càng phát triển hơn để có thể cứu được nhiều bệnh nhân.

    Tôi thành thật cảm ơn!. sđt: 0938303275

  • Tôi Huỳnh Thị Mười, sinh năm 1940 đã khám và điều trị tại phòng khám Đức Tín. Tôi rất hài lòng về cách phục vụ và chăm sóc bệnh nhân của phòng khám. Bác Sĩ rất tận tâm giải thích và chia sẻ cùng với bẹnh nhân.

    Tôi Huỳnh Thị Mười xin thành thật cảm ơn!SĐT: 0972868746

  • Theo tôi nhận định PK Đức Tín là nơi cả gia đình tôi đặt niềm tin, hi vọng khi đến khám. Bác sĩ tận tình, chu đáo, hòa nhã với bệnh nhân. Y tá và nhân viên PK lịch sự, vui vẻ, chu đáo. PK sạch sẽ, vô trùng nên tôi rất thích. ĐT: 0949914060.

  • Bác sĩ rất tận tình, chu đáo và Y tá rất dịu dàng, lịch sự, niềm nở với tôi. Phòng khám sạch sẽ, thoải mái, lịch sự. Tôi rất thích PK Đức Tín. Mỗi khi đến khám bệnh tôi rất an tâm. ĐT: 0839820792.

  • Tôi là bệnh nhân, đã tới phòng khám Ths.Bs. Lê Đức Tín. Tôi thấy bác sĩ rất tận tâm chăm sóc bệnh nhân, giải đáp mọi thắc mắc và nhân viên rất tận tình từ nhân viên tiếp tân đến các em xét nghiệm, điều dưỡng. Phòng khám rất sạch sẽ và khang trang. Tôi rất hài lòng. ĐT: 01227880829.

Tìm kiếm
Hỗ trợ khách hàng

    Điện thoại bàn: (028) 3981 2678
    Di động: 0903 839 878 - 0909 384 389

TOP