Ngày 08/04/2020 | 09:45.

Suy tim là hội chứng thường gặp trên lâm sàng với tỷ lệ tử vong sau 5 năm chẩn đoán là >50%.

Ngày 07/04/2020 | 02:40.

Perindopril/Indapamide/Amlodipine viên phối hợp cố định có tỉ lệ hạ áp đối với HATT vào tuần thứ 4 giảm 21.3 mmHg, vào tuần thứ 8 tiếp tục giảm thêm 5.2 mmHg. Đối với HATTr hạ 8.2 mmHg, tiếp tục giảm thêm 3.8 mmHg vào tuần thứ 8. Mức HA TT giảm sau 8 tuần điều trị là 26.5 mmHg, HATTr là 12 mmHg, mức HA ban đầu HA càng cao, hạ áp càng nhiều. Nhịp tim bệnh nhân giảm có ý nghĩa sau tuần thứ 4 và giảm không có ý nghĩa sau tuần thứ 8. Các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi đều kiểm soát được HA mục tiêu, có 41 (74.5%) bệnh nhân kiểm soát được HA mục tiêu với Perindopril/Indapamide/Amlodipine liều 5/1.25/5 mg và có 14 (25.5%) bệnh nhân liều 5/1.25/10 mg.Chúng tôi ghi nhận phản hồi có 4 bệnh nhân bị ho. Không làm thay đổi các đánh giá cận lâm sàng về đường huyết, chức năng gan/thận, điện giải đồ trước và sau 8 tuần điều trị.

Ngày 06/04/2020 | 09:48.

 Tình trạng THA là phổ biến và ngày càng gia tăng trên thế giới và ở Việt Nam cũng như toàn cầu. Tỷ lệ THA chuẩn hóa theo tuổi trên toàn cầu là 24,1% ở nam và 20,1% ở nữ vào năm 2015. Có 10.7% bệnh nhân Tăng huyết áp ở Việt Nam điều trị kiểm soát được HA.Đánh giá hiệu quả hạ áp của viên thuốc phối hợp cố định 3 thành phần perindopril, indapamide và amlodipine, tỉ lệ kiểm soát huyết áp. Các tác dụng ngoại ý và tác động trên các yếu tố đường huyết, men gan, chức năng thận, ion đồ.Nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc. Bệnh nhân THA đang điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội Tim mạch, Bệnh viện Thống Nhất từ 06/2019 đến 10/2019.Có 55 bệnh nhân tham gia nghiên cứu.Tuổi trung bình là 65.6 ± 10.4. Có 29 bệnh nhân nam chiếm 52.7%. Đối với huyết áp tâm thu (HATT) trước khi nghiên cứu là 153.3 ± 6.9 mmHg, sau tuần thứ 4 HATT là 132 ± 6.8 mmHg giảm 21.3 mmHg (p = 0.000)vào tuần thứ 8 HATT là 126.8 ± 6.8 mmHg tiếp tục giảm thêm 5.2 mmHg(p= 0.000). huyết áp tâm trương (HATTr) là 87.8 ± 4.6 mmHg, sau tuần thứ 4 HATTr là  79.6 ± 6.4 mmHg giảm 8.2 mmHg (p = 0.000), tuần thứ 8 HATTr là 75.8 ± 5.3 mmHg giảm thêm 3.8 mmHg (p = 0.000). Nhịp tim giảm sau 4 tuần (-2.7 ± 1.45nhịp/phút; p = 0,0001) và tuần thứ 8 (-0.7 ± 0.5 nhịp/phút; p = 0,17). Có 4 (7.2%) trường hợp gây ho. Không làm thay đổi các cận lâm sàng có ý nghĩa.Một sự kết hợp ba loại perindopril – indapamide – amlodipine đã kiểm soát HA hiệu quả ở những bệnh nhân tăng huyết áp không được kiểm soát bằng liệu pháp đơn trị hoặc 2 thuốc  huyết áp phối hợp trước đó. Có 4 bệnh nhân bị ho. Không làm thay đổi các cận lâm sàng.

Ngày 03/04/2020 | 09:22.

ARVC là bệnh lý hiếm gặp nhưng là một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến đột tử ở người trẻ. Biểu hiện lâm sàng của bệnh rất đa dạng, có thể không điển hình, việc chẩn đoán có thể là một thách thức với các bác sĩ lâm sàng. Như 2 trường hợp lâm sàng trên đây, bệnh cảnh lâm sàng nổi bật là suy tim, đặc biệt là tổn thương cả 2 thất. Quá trình chẩn đoán phụ thuộc nhiều vào các phương tiện hình ảnh không xâm lấn, đặc biệt là MRI đã hỗ trở rất nhiều cho chẩn đoán bệnh.

Ngày 01/04/2020 | 09:00.

Bệnh cơ tim thất phải gây loạn nhịp (ARVC)  hay còn gọi là loạn sản thất phải gây loạn nhịp (ARVD) là một trong những bệnh cơ tim nguyên phát hiếm gặp, với biểu hiện lâm sàng đặc trưng là rối loạn nhịp tim nguy hiểm đe dọa tính mạng, gây ra do sự thay thế tế bào cơ tim bằng mô xơ – mỡ

Ngày 31/03/2020 | 09:28.

Bệnh cơ tim tâm nhĩ, cho đến gần đây, vẫn còn là một khái niệm chưa rõ ràng mặc dù đã được định nghĩa và mô tả chi tiết trong đồng thuận EHRAS, tuy nhiên nó vẫn có một giá trị lâm sàng nhất định. Nhiều nguyên nhân gây ra sự thay đổi bệnh lý cơ tim và được phản ánh mô học bởi phân loại EHRAS. Quá trình tổn thương cơ tim cũng gây ra những thay đổi về cơ học, điện học, xơ hóa và rối loạn đông máu góp phần vào tiến triển của rung nhĩ và nguy cơ đột quỵ. Cần thêm nhiều nghiên cứu sâu hơn để xác nhận giá trị và áp dụng phân loại EHRAS trong việc hướng dẫn chẩn đoán và điều trị lâm sàng.

Ngày 30/03/2020 | 08:11.

Khái niệm về bệnh cơ tim được Brigden giới thiệuvào năm 1957, để chỉ ra những bệnh lý cơ timkhông do căn nguyên mạch vành[2]. Thuật ngữ này bao gồm một nhóm các bệnh lý cơ tim có liên quan đến rối loạn quá trình tái tạo và hình thái tế bàocơ tim:bệnh cơ tim phì đại, bệnh cơ tim giãn nở, bệnh cơ tim hạn chế, loạn sản thất phải, và bệnhcơ tim Takotsubo.

Ngày 27/03/2020 | 09:09.

Kết quả từ một nghiên cứu gần đây mở ra một câu hỏi khác về vấn đề sử dụng Nitrat tác dụng kéo dài. Ở những bệnh nhân Nhật Bản có BTTMCB do co thắt mạch ổn định, sử dụng kết hợp thuốc chẹn kênh Ca2+ và Nitrat tác dụng kéo dài làm tăng nguy cơ các biến cố tim mạch. Có lẽ không an toàn khi kết hợp các thuốc này trong điều trị lâu hạn BTTMCB? Do đó, chúng tôi có dữ liệu không phù hợp nhau và các câu hỏi mới về việc sử dụng lâu dài Nitroglycerindạng dán xuyên da vàcác Isosorbide Nitratđường uống trong BTTMCB. Một nghiên cứu ngẫu nhiên với pentaerythritol tetraNitrate có thể thú vị, và các loại thuốc thay thế có tác dụng khác oxit nitric có thể hữu ích.

Ngày 26/03/2020 | 09:03.

Nitrat là một trong những thuốc có lịch sử lâu đời nhất để điều trị đau ngực trong bệnh tim thiếu máu cục bộ. Nitrat tác dụng ngắn (Short-acting Nitrates) có nhiều lợi ích trong tình trạng thiếu máu cơ tim cục bộ cấp tính. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được giải đáp về việc sử dụng Nitrat tác dụng kéo dài (Long-acting Nitrates) trong bệnh tim thiếu máu cục bộ ổn định. Việc sử dụng Nitrat tác dụng dài đã giảm đi do vấn đề tiến triển của rối loạn chức năng nội mô và vấn đề về dung nạp thuốc. Ngoài ra, hiện tại cũng ít đề cập tới liều Nitroglycerindạng dán trên da thấp hơn có tốt hơn so với những dạng khác hiện đang được sử dụng hay không. Dữ liệu phân tích đa biến từ các nghiên cứu không ngẫu nhiên lớn cho thấy rằng Nitrat tác dụng dài làm tăng tỷ lệ mắc hội chứng mạch vành cấp, trong khi dữ liệu từ một nghiên cứu đa biến khác cho thấy chúng có tác dụng tích cực. Do sự khác biệt về phương pháp nghiên cứu và các câu hỏi mở, hai nghiên cứu này không thể so sánh với nhau. Một nghiên cứu ở Nhật Bảntrên bệnh nhân đau thắt ngực do co thắt đã chỉ ra rằng, khi so sánh với thuốc chẹn kênh Canxi, Nitrat tác dụng dài không cải thiện tiên lượng lâu dài và nguy cơ gia tăng các biến cố tim mạch khi điều trị kết hợp. Do vậy, thật sự là còn nhiều tranh cãi trong việc sử dụng nitrat. Bài viết này sẽ trình bày một số vấn đề trong việc sử dụng nitrat ở bệnh nhân có bệnh tim thiếu máu cục bộ.

Ngày 25/03/2020 | 08:12.

Ngưng tim được định nghĩa là mất hoạt động cơ học của tim được xác nhận bởi mất những dấu hiệu tuần hoàn.

 

Ngày 24/03/2020 | 06:41.

Hội chứng rối loạn tuần hoàn não sau có hồi phục là một chẩn đoán có nhiều thách thức bởi triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu và có thể bị trùng lắp với các triệu chứng khác trong thai kỳ, và nó cũng có thể xảy ra ngay cả khi đã chấm dứt thai kỳ. Sinh bệnh học của PRES phụ thuộc vào tình trạng bệnh lý nền, với hai giả thuyết được đặt ra: phù do mạch máu (giả thuyết tăng tưới máu) và phù do độc tế bào (giả thuyết giảm tưới máu), nhưng cơ chế bệnh sinh chính xác đến nay vẫn chưa được biết rõ. Nhận diện sớm PRES, để loại bỏ các nguyên nhân nếu có và kiểm soát huyết áp tích cực, là yếu tố cần để đảm bảo tổn thương có thể hồi phục hoàn toàn.

Ngày 23/03/2020 | 06:42.

Ca lâm sàng

Bệnh nhân nữ 36 tuổi, nhập viện vì đau đầu và nhìn mờ. 6 ngày trước nhập viện, bệnh nhân được mổ bắt con rạ 39 tuần vì khung chậu hẹp, hậu sản ổn định, xuất viện sau 4 ngày với toa thuốc gồm paracetamol, canxi và sắt.

 

Ý KIẾN KHÁCH HÀNG

  • Tôi Nguyễn Thanh Sang, sinh năm 1990. Từ sau khi khám và điều trị tại phòng khám Đức Tín, tôi rất biết ơn Bác Sĩ đã giải thích và chia sẽ về bệnh tình của tôi. Trong suốt thời gian điều trị tại phòng khám tôi được chắm sóc rất tận tình của nhân viên phòng khám. giờ đây bệnh tình của tôi đã được cải thiện theo chiều hướng tốt. Mong phòng khám ngày càng phát triển hơn để có thể cứu được nhiều bệnh nhân.

    Tôi thành thật cảm ơn!. sđt: 0938303275

  • Tôi Huỳnh Thị Mười, sinh năm 1940 đã khám và điều trị tại phòng khám Đức Tín. Tôi rất hài lòng về cách phục vụ và chăm sóc bệnh nhân của phòng khám. Bác Sĩ rất tận tâm giải thích và chia sẻ cùng với bẹnh nhân.

    Tôi Huỳnh Thị Mười xin thành thật cảm ơn!SĐT: 0972868746

  • Theo tôi nhận định PK Đức Tín là nơi cả gia đình tôi đặt niềm tin, hi vọng khi đến khám. Bác sĩ tận tình, chu đáo, hòa nhã với bệnh nhân. Y tá và nhân viên PK lịch sự, vui vẻ, chu đáo. PK sạch sẽ, vô trùng nên tôi rất thích. ĐT: 0949914060.

  • Bác sĩ rất tận tình, chu đáo và Y tá rất dịu dàng, lịch sự, niềm nở với tôi. Phòng khám sạch sẽ, thoải mái, lịch sự. Tôi rất thích PK Đức Tín. Mỗi khi đến khám bệnh tôi rất an tâm. ĐT: 0839820792.

  • Tôi là bệnh nhân, đã tới phòng khám Ths.Bs. Lê Đức Tín. Tôi thấy bác sĩ rất tận tâm chăm sóc bệnh nhân, giải đáp mọi thắc mắc và nhân viên rất tận tình từ nhân viên tiếp tân đến các em xét nghiệm, điều dưỡng. Phòng khám rất sạch sẽ và khang trang. Tôi rất hài lòng. ĐT: 01227880829.

Tìm kiếm
Hỗ trợ khách hàng

    Điện thoại bàn: (028) 3981 2678
    Di động: 0903 839 878 - 0909 384 389

TOP